Back to top

Chuyển hoá và rối loạn chuyển hóa glucid

Chuyển hoá và rối loạn chuyển hóa glucid

Chức năng chuyển hóa và rối loạn chức năng chuyển hóa Glucid, Lipid, Protid của gan
Giảm khả năng phân huỷ protid Trong suy gan, một số protid từ ống tiêu hoá vào không bị gan phân huỷ nên nó tồn tại trong máu. Những chất này gây nhiễm độc thần kinh như polypeptid, các loại diamin, phenol, indol và là nguyên nhân của hôn mê gan. Acid amin cũng tăng trong máu, nếu nhiều gây acid…

Tế bào gan là nơi chuyển hóa siêu thành đạt trong cơ thể. Nó đóng vai trò quan trọng trong việc tổng hợp các phân tử được sử dụng ở những nơi khác để hỗ trợ cân bằng nội môi, trong việc chuyển đổi các phân tử của một loại khác cũng như trong việc điều chỉnh cân đối năng lượng, nước và điện giải cho cơ thể. Các chức năng trao đổi các chất glucid, lipid, protid chủ yếu của gan có thể được tóm tắt thành một số mục chính sau:

Chuyển hoá và rối loạn chuyển hóa glucid

Đây là chuyển hóa rất quan trọng cho tất cả các loài động vật để duy trì nồng độ glucose trong máu trong một phạm vi hẹp, bình thường. Mục đích để duy trì lượng đường trong máu bình thường có thể dài là một ngày đến vài tuần, ngắn là một giờ đến vài giờ là một trong những chức năng đặc biệt quan trọng của gan.

>>> XEM THÊM: Protid va protein

 

Nó có khả năng chuyển đường mới hấp thu từ ống tiêu hóa, đường thừa thành glycogen dự trữ. Vì vậy thử nghiệm ăn đường ở những bệnh nhân giảm đường máu có kết quả rất rõ. Tuy vậy nghiệm pháp ăn đường không hoàn toàn đặc hiệu cho gan. Gan là nơi duy nhất biến đường đa thành đường đơn, khi bị bệnh chức năng này giảm. Ngày nay người ta hay sử dụng nghiệm pháp Galactose niệu nhằm thăm dò khả năng biến đường đa thành đường đơn của gan.

Khả năng dự trữ glycogen trong gan là rất lớn, nếu khả năng này giảm trong rối loạn chức năng gan, bệnh nhân dễ bị hạ đường máu xa bữa ăn.

Khả năng làm giảm các sản phẩm chuyển hoá trung gian của glucid như acid lactic, acid pyruvic trong máu của gan cũng rất mạnh. Khả năng này yếu đi khi gan thiểu năng vì lúc đó nó không sử dụng được vitamin B1 để hình thành coenzyme phospho hoá đưa những sản phẩm trên vào vòng Krebs.

Tế bào gan qua nhiều con đường trao đổi chất khác nhau và sử dụng hàng chục enzyme thì có thể chọn bật hoặc tắt tùy thuộc vào mức độ glucose trong máu được tăng hoặc rơi ra khỏi phạm vi bình thường. Hai ví dụ quan trọng của những khả năng này là:

Lượng glucose dư thừa vào máu sau bữa ăn được nhanh chóng đưa lên bởi gan và cô lập như polyme lớn, glycogen (một quá trình gọi là glycogenesis). Sau đó, khi nồng độ glucose trong máu bắt đầu giảm, gan kích hoạt các con đường khác dẫn đến depolymerization glycogen (glycogenolysis) và xuất khẩu đường trở lại vào máu để vận chuyển đến tất cả các mô khác.

Khi dự trữ glycogen ở gan trở nên cạn kiệt, như xảy ra khi một con vật đã không ăn trong vài giờ, lúc đó gan nhận ra vấn đề và kích hoạt các nhóm bổ sung enzyme bắt đầu tổng hợp glucose từ những thứ như axit amin và carbohydrate không hexose (gluconeogenesis). Khả năng của gan để tổng hợp theo con đường này để tạo ra đường “mới” có tầm quan trọng đặc biệt để ăn thịt, một loại thực phẩm ít nhất có trong môi trường sống, vì vậy có những loài vật kể cả con người có chế độ ăn hầu như không có tinh bột.

Leave a Comment